Hợp đồng được giao kết trên cơ sở các bên tự nguyện thỏa thuận và có giá trị ràng buộc trong suốt quá trình thực hiện. Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào hoàn cảnh tại thời điểm giao kết hợp đồng cũng được duy trì cho đến khi hợp đồng chấm dứt. Khi xuất hiện những biến động khách quan làm thay đổi đáng kể điều kiện thực hiện hợp đồng, việc tiếp tục thực hiện theo đúng thỏa thuận ban đầu có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Vậy trong trường hợp này, pháp luật Việt Nam quy định như thế nào? Hãy cùng tìm hiểu bài viết dưới đây.
1. HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN LÀ GÌ?
Pháp luật Việt Nam hiện nay không có định nghĩa cụ thể về hoàn cảnh thay đổi cơ bản, mà chỉ quy định các điều kiện để xác định trường hợp được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015.
Trên cơ sở quy định này, ta có thể hiểu “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” là tình huống phát sinh sau thời điểm giao kết hợp đồng do các yếu tố khách quan, làm thay đổi đáng kể sự cân bằng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, khiến việc tiếp tục thực hiện hợp đồng theo nội dung đã thỏa thuận có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên.
2. ĐIỀU KIỆN XÁC ĐỊNH HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN
Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 420 Bộ luật dân sự 2015 quy định hoàn cảnh được coi là thay đổi cơ bản khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng.
Điều kiện này đòi hỏi sự thay đổi phải phát sinh sau thời điểm các bên ký kết hợp đồng và xuất phát từ những yếu tố khách quan nằm ngoài ý chí của các bên, như thay đổi chính sách pháp luật, thiên tai, dịch bệnh hoặc các biến động lớn của thị trường.
b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh.
Nói cách khác, khi xác lập hợp đồng, các bên không thể dự liệu một cách hợp lý rằng hoàn cảnh đó sẽ xảy ra. Nếu sự kiện đã có thể dự đoán hoặc đã được biết trước thì không đủ điều kiện để áp dụng quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác.
Sự thay đổi phải có mức độ ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích của các bên, làm thay đổi căn bản cơ sở để giao kết hợp đồng. Đây là căn cứ để đánh giá liệu các bên có còn giữ nguyên ý chí giao kết nếu biết trước sự kiện đó hay không.
d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên.
Việc thực hiện hợp đồng theo đúng thỏa thuận ban đầu phải dẫn đến nguy cơ gây thiệt hại lớn cho một bên, vượt quá những rủi ro thông thường mà các bên phải chấp nhận trong quan hệ hợp đồng.
đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.
Theo đó, hai yếu tố quan trọng để đáp ứng được điều kiện này là: (1) Đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng; (2) Không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích. Nếu thiếu một trong hai yếu tố sẽ không thể xác lập điều kiện này.
3. HƯỚNG XỬ LÝ KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN
Khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên bị ảnh hưởng không được tự ý chấm dứt hoặc từ chối thực hiện hợp đồng. Thay vào đó, pháp luật cho phép các bên lựa chọn những phương thức xử lý phù hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
3.1. Quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng
Theo khoản 2 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên còn lại đàm phán lại hợp đồng trong thời hạn hợp lý.
Việc đàm phán nhằm điều chỉnh các điều khoản của hợp đồng cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế, hạn chế thiệt hại và tạo điều kiện để các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng. Thời hạn hợp lý sẽ được xem xét dựa trên tính chất của hợp đồng, thỏa thuận, tập quán giữa các bên và từng trường hợp cụ thể.
Lưu ý: Trong quá trình đàm phán, các bên nên chuẩn bị đầy đủ tài liệu chứng minh việc hoàn cảnh đã thay đổi cơ bản và mức độ ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng để tăng khả năng đạt được thỏa thuận.
3.2. Quyền yêu cầu Tòa án giải quyết
Trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận sau quá trình đàm phán, khoản 3 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho phép bên bị ảnh hưởng yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo đó, Tòa án có thể:
- Quyết định sửa đổi hợp đồng để bảo đảm cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên; hoặc
- Quyết định chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định nếu đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật.
Trong thời gian Tòa án giải quyết, hợp đồng vẫn có hiệu lực và các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Việc đánh giá có đủ điều kiện áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố và chứng cứ cụ thể. Do đó, các bên nên tham khảo ý kiến của luật sư ngay từ giai đoạn đàm phán để xây dựng phương án xử lý phù hợp, hạn chế rủi ro phát sinh tranh chấp hoặc bất lợi khi giải quyết tại Tòa án.
______________________________
CÔNG TY LUẬT TNHH NGUYỄN LÊ TRẦN VÀ CỘNG SỰ
Với đội ngũ Luật sư nhiều năm kinh nghiệm, tận tâm, chuyên nghiệp, giải quyết các vấn đề pháp lý khiến quý khách hàng hài lòng. Hãy kết nối với chúng tôi theo thông tin sau đây:
Địa chỉ: 14-16 Tôn Đản, P. Xóm Chiếu (Quận 4 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh
VPGD: Số 1 Đường số 1 KDC Đông Dương, Phường Long Trường, Thành phố Hồ Chí Minh
Liên hệ: 036 9210 959 (Luật sư Giàu)
Hotline: 0938343384 (Luật sư Nguyễn Duy Binh)
Web: citylawyer.vn